Ứng dụng luyện phát âm Elsa Speak giảm giá lên tới 80%, tặng thêm 2 code 3 tháng cho gói trọn đời
Hôm nay, ngày 18/07/2018 XMEN1903.com - ELSASPEAK.vn - TỰ HỌC IELTS 9.0 Đăng nhập | Đăng ký | Quên mật khẩu }
Bài viết
IELTS
ELSA SPEAK
Video Clip
Effortless English A.J.Hoge
GENERAL ENGLISH
KINH NGHIỆM HỌC NGOẠI NGỮ
TOEIC
101 Video Tình huống giao tiếp bằng tiếng anh
VIDEO HỌC TIẾNG ANH
EBOOK
Tổng hợp
MUSIC
SOFTWARE
THỦ THUẬT TIN HỌC
Những bài viết hay
Mẹo học tiếng Anh hiệu quả

Đăng ngày: 04/10/2010 14:12
Mẹo học tiếng Anh hiệu quả
    (Sưu tầm trên internet)

Tiếng Anh (TA) của tôi cũng tạm thôi, nhưng tôi muốn chia xẽ cùng các bạn một số kinh nghiệm học TA của tôi. Mọi điểm trong bài viết không được trình bày theo một thứ tự ưu tiên nào cả. Hy vọng mỗi bạn còn đang gặp khó khăn nói TA sẽ tìm thấy đôi điều hửu ích.

Mẹo vặt học tiếng Anh

1. Khi nói tiếng Việt, miệng, môi và lưởi của bạn ít xê dịch, nhưng tiếng Anh thì khác. Khi nói chuyện với người yếu TA, người Tây thường nhìn miệng để đoán chữ. Vì vậy bạn hãy thực tập mở miệng lớn hơn như cười thật tươi, cười mỉm, hay như chúm môi “hôn”. Đồng thời lưởi của bạn cũng moving giữa các vị trí chiến lược như sau: sau hàm răng trên, sau hàm răng dưới, giữa hai hàm răng, phía trên giữa vòm miệng, gần cổ họng. Có vài chữ đòi hỏi môi phải khép lại trước hoặc sau khi phát âm. Nói chung, moving miệng, lưởi, môi phù hợp giúp chúng ta phát âm đúng, rõ hơn; người Tây dễ hiểu chữ ta muốn nói hơn. Mới đầu, bạn move chậm chạp và sẽ bị mỏi miệng, luởi.

2. Biết một từ nào, nhưng không biết cách phát âm đúng, thì bạn sẽ gặp khó khăn để nhận ra chữ đó, khi nghe người ta nói. Trong quá trình tập đọc, bạn đã vô tình tập “sai” cho tai của bạn, cách nhận ra chữ đó. Vì vậy, khi nghe Tây nói, cái âm thanh thật sự chạy vào cái đầu của bạn, lại là cái âm thanh quen thuộc nằm trong memoire của bạn từ hồi giờ. Cũng do đó, bạn luôn luôn lặp lại đúng cái âm thanh thầy Việt vừa đọc, nhưng khác hẳn cái âm thanh thầy Tây vừa phát. Rõ ràng, cái sai này dẫn đến cái sai khác.

Vì ta có 1 căn bản học tập sai, nên rất khó để đạt được sự tiến bộ mong muốn, ngay cả theo học thầy giỏi. Theo kinh nghiệm của tôi, bạn cần phải làm lại từ đầu bằng cách: Vừa nghe kỹ cách phát âm vừa nhìn cách phiên âm của chữ được viết trong tự điển online, http://www.thefreedictionary.com/, để hiểu lý do tại sao phải đọc như vậy.

Đây là một cách tự học. Nó giúp ta đọc đúng, nhớ dai, có căn bản phát âm chắc chắn và không nặng giọng Việt. Vì vậy, hãy bắt đầu tập phát âm rõ ràng mọi âm tiết của một từ được phiên âm trong tự điển.

Ví dụ:

- Solder [ˈsodər], soldier [ˈsoʊldʒə], boss [bos], reserved [rɪˈzɜːvd] – v giống k của next.
- Chữ nest có phiên âm là “nést”. Tất cả gồm 3 âm: né (dấu sắc vì âm nhấn), s và t.
- Chữ next có phiên âm là “nékst”. Tất cả gồm 4 âm: né, k, s, t.

Hai từ nest và next đọc khác nhau bởi chữ “k”. Bạn không phát âm k thành tiếng, nhưng phải ngừng lài 1/30 giây (rất chớp nhoáng) để nhận diện sự có mặt của nó, trước khi tiếp tục đọc s và t. S được đọc lướt qua thật nhanh (1/40 giây) để nối vào âm t. Vì vậy, đọc nest nhanh và smooth hơn next.

3. Những từ có 2 âm trở lên, bạn phải biết âm nào là âm nhấn. Phát âm đúng và mạnh âm nhấn – bỏ dấu sắc vào âm đó. Đối với âm phụ, nếu bạn đọc nhỏ hay đọc không chính xác lắm, người nghe vẫn dễ dàng đoán hiểu được.

Ví dụ:

- Position. Bạn có thể đọc po,pô, pơ, nhưng âm nhấn: “zí”, lúc nào cũng giống nhau.
- Positive. Bạn phải đọc đúng âm đầu: “pó”, âm sau là âm phụ nên tùy người đọc zi hay zơ đều đúng.
- Recipt: [rəˈsiːt] or [riˈsiːt].
- Recipe: [ˈresəpi:] or [ˈresipi:].

Tương tự cho các chữ: acadEmy, acAdemic, autOmatic, autonOmy, senAtor, ìnfinItive. E, A, O, O, A, I, E, O, vừa nêu đều được đọc như là ơ vì không phải là âm nhấn. Dĩ nhiên nếu bạn đọc sát với âm của chử cái được viết thì cũng không sao.

Dĩ nhiên là âm nào cũng nên đọc đúng, nhưng âm chính là ưu tiên hàng đầu. Không nhớ âm chính, có thể dẫn tới việc hiểu sai ý nghĩa của chữ muốn nói.

Ví dụ:

Polish và police, dessert và desert.

4. Có thể nói chương trình đào tạo của ta dở lắm. Trong sách có biết bao câu mẫu rất hay, nhưng ta hiếm được dạy “nên học thuộc” để làm vốn khi giao tiếp bằng TA. Vì vậy, đến khi cần, ta hay mất bình tỉnh; ta cố rặng từng chữ một, nói sai giọng mà chưa chắc, cấu kết câu đã đúng văn phạm.

Do đó, học chữ nào nên chú ý – động từ, tỉnh từ hay danh từ; quá khứ của nó viết ra sao; nối full, less, er, est hay y vào đuôi được không. Cách học tốt nhất là học luôn cả câu mẫu, từ sách hay từ điển, để khi cần là nói ra ngay, chứ không phải tốn thì giờ lắp ghép. Chắc chắn bạn sẽ đở bị cà lăm, có phản ứng nhanh nhẹn, và nói những câu rất ấn tượng, y như Tây.

5. TA có hai âm i: Một i ngắn và một i dài.

- Âm i ngắn cho mọi trường hợp chỉ có một i: Bit, sit, fill, piss, bitch.
- Âm i dài cho nhiều trường hợp khác: Beat, seat, feel, piece, beach.

Đọc i dài khi nào bạn thấy: ee – see; ea – meal; ie – believe; ei – either; chữ cái cuối cùng là e – me, she, we; chữ cái cuối cùng là y – city, windy, fancy; cụm chữ cuối cùng là ique – unique, antique; và e + phụ âm + e như Vietnamese, steve, peter, these.

Người Tây mỗi khi chụp hình thường nói “say g” hay “say gee”. G và gee đều có cách đọc, phiên âm như nhau: dzee hay dzi: – Âm i dài. Vậy, khi bạn phát âm i dài, bạn nên mở miệng (2 bên) như cười mỉm. Động tác này làm cho âm i dài ra, ít bị ảnh hưởng bởi phụ âm theo sau. Khi bạn đã quen, không còn nhầm lẫn cách đọc giữa i ngắn và i dài, lúc đó, nếu bạn không muốn bành miệng sang 2 bên cho i dài thì cũng không sao.

Ví dụ:

Sit: Vì i ngắn nên bạn đọc sí + t giống y như là sít + t. Nghe rất “sắc” và nhanh.
Seat: Bạn phải đọc s í í í í + t. Nghe nhẹ nhàng, thong thả.

*

*

*

6. Tập lắp ráp, sử dụng 1 chữ vừa biết với chủ từ, túc từ, động từ, giới từ, tỉnh từ, trạng từ khác nhau trong 1 câu (xác định, phủ định và câu hỏi). Cách thực tập này cho phép bạn sử dụng lưu loát cả chục câu liên quan tới một từ vừa biết.

7. Nếu bạn học đúng phương pháp, thì bạn có thể bắt đầu giao dịch tốt bằng TA khi biết khoảng 1,000 từ. Một điều quan trọng nữa là, bạn nên ưu tiên học những từ popular và tận dụng tối đa các câu lắp ráp sẳn mà bạn đã thuộc.

8. Lưu ý là c, g, t có 2 cách phát âm: hard và soft.

Ví dụ:

Phát âm “c” cho car, corn, curl, common, vv.
Phát âm “s” cho cent, city, cylinder. Ghi chú: Phát âm soft c cho c có e, i , y đi kèm..

“g” cho gìft, gun, girl, go, vv.
“dz” cho genius, ginger, gypsy, page, vv. Ghi chú: Phát âm soft g cho g có e, i , y đi kèm.

Hard t phát âm như “th” của tiếng Việt, khi nào t là chữ cái đầu tiên của một từ: Taxi, ten, turn, etc.
Soft t phát âm như “t” của tiếng Việt, khi t không phải là chữ cái đầu tiên: Artist, captain, enter, etc.

9. Ngày nay học TA bạn có tự điển online: http://www.thefreedictionary.com/. Hãy bỏ chữ vào để nghe cách phát âm của người Mỹ, Anh. Bạn nên chọn 1 trong 2, Mỹ hay Anh, tuỳ sỡ thích. Chọn Vietnamese cho phần translation. Bạn có thể vào phần spelling bee để luyện nghe. Lúc TA của bạn khá hơn thì đừng quên khám phá những công dụng khác của từ điển này.

10. Phát âm lại tất cả các mẫu tự a,b,c,…z. để xem bạn phát âm có thật sự đúng không. Sau abcd… thì tới phiên ngày tháng, sáng chiều, đẹp xấu, to lớn, buồn vui, vv. Nên dò xét lại có chữ nào, âm nào trong TA mà bạn chưa thể phát âm chính xác hay khi nói thì người nước ngoài phải hỏi tới hỏi lui. Nhiều khi Tây hiểu ý hay kể cả, nhận ra cái từ mà bạn vừa sử dụng cũng chưa nói lên được bạn phát âm hoàn toàn đúng.

11. Đa số những chữ có 2 âm, dùng cả cho danh và động từ, thì nhấn âm đầu cho danh từ, âm sau cho động từ.

Ví dụ:

Recall, exploit, increase, rebel, produce, insult, refuse, vv.

Phát âm có dấu sắc cho âm nhấn để làm nổi bậc nó. Vì vậy âm còn lại chỉ có thể được đọc không dấu, với dấu huyền hoặc nặng, tuỳ chữ.

Ví dụ: (Hãy nghe kỹ nhưng âm sau)

degree, nestle, magic, ended, finish, phoenix, common, topic, angel, etc.

12. Lúc đầu chỉ học nói những từ sơ đẵng giống như trẻ em. Tùy trình độ phát âm của bạn mà tăng dần lên từ khó hơn. Bạn nên nhớ là khi mà người Tây nghe bạn nói quá chậm chạp, cấu kết câu nói chưa đúng và phát âm khó nghe thì tự động họ cho rằng trình độ TA của bạn còn yếu. Họ sẽ dùng từ dễ hiểu nhất để nói với bạn, đồng thời tai của họ expect từ bạn những chữ dễ tương tự. Vì vậy, phải ráng học phát âm đúng, còn nếu không, nhiều khi bạn cứ lòng vòng, lập đi lập lại những từ ngữ sơ đẵng, dễ đọc, dễ hiểu – sau một lúc có thể bạn nản chí vì không thấy tiến.

13. Từ có 3 âm trở lên có thể có 2 âm nhấn: một chính, một phụ. Tuy nhiên, 2 âm nhấn gần như không bao giờ liên tiếp nhau.

Ví dụ:

FAscinate, operAtion, fundamEntal, extraOrdinary (a trước O là a câm), etc.

14. Những chữ tận cùng bằng ATE, UDE, thì âm nhấn hầu như lúc nào cũng nằm trước, cách một âm.

Ví dụ:

Complicate, maNIpulate, fabricate, gratitude, attitude, etc.

Tuy nhiên các từ có ION, IC, IOUS ở cuối thì âm nhhấn là âm ngay trước.

Ví dụ:

Reflection, application, automatic, exotic, hilarious, suspicious, etc.

15. Đối với một số người trên thế giới, TA dễ, nhưng đối với người Việt hay ĐNA, Đông Á thì quá khó. Một điều khích lệ là: Giả sử trình độ TA của bạn chỉ bằng một em bé 10 tuổi thì bạn vẫn được lắng nghe một cách respectfully. Người nước ngoài rất kiên nhẫn với những người yếu TA như tôi và bạn. Giả sử vào các diễn đàn TA viết văn như học sinh lớp 9, 10, bạn sẽ thấy người Tây thường chỉ để ý đến chất lượng ý kiến của bạn.

16. Âm “less”, “ness”, est, nằm cuối một từ, hiếm khi nào là âm nhấn, bởi vì, less, ness và est là những chữ
được ghép vào nhằm hổ trợ ý nghĩa cho từ chính. Do đó, “less” và “ness” phải được đọc bằng âm dấu nặng chứ không phải dấu sắc. Phát âm tương tự cho “ious” ở cuỗi một từ.

Ví dụ:

Business, happiness, helpless, useless, latest, biggest, delicious, gracious, vv.

*

*

*

17. Đừng quên đọc những âm ở đuôi, chẵng hạn như t, d sh, g, ve, f, c, z, l, ed, st, xt, ted, ches, ess, ive, etc. Không đọc âm đuôi của một chữ, tức chưa đọc xong chữ đó. Đọc không đúng âm đuôi có thể làm cho người nghe hiểu sai ý bạn muốn nói. Thật ra, âm đuôi quang trọng không kém những âm khác.

18. Nhiều người không nhận ra có âm “l” trong TIẾNG MỸ. Âm l rất quan trọng khi nằm ở cuối chữ.

Ví dụ:

Real, pull, fail, sale, mile,spoil, feel, mail, girl, cool, rule, etc.

Nghe từ điển bạn sẽ nhận ra âm l trong những chữ vừa nêu và mọi chữ được viết tương tự. Có khi âm l rất rõ, có khi chỉ nghe phản phất.

Ví dụ: (Những chữ âm l rõ)

Smile, oil, style, mild, nên đọc là: s+ˈ mai+ồ+l, ˈ oi+ồ+l, s+ˈ tai+ồ+ l, ˈ mai +ồ+d.

Nói chung, dù âm l đọc lớn hay nhỏ thì khi đọc, lưởi của bạn phải đồng thời di chuyển lên phía trên, đụng vòm họng và đầu lưởi chạm vào chân răng của hàm trên. Dĩ nhiên, khi TM của bạn đã giỏi, thì lúc đó bạn nên đọc hết mọi l trong một chữ, dù l nằm ở đâu.

19. Khuyến khích các em thiếu nhi xem các chương trình dành cho trẻ em trên các đài (hay websites) truyền hình Âu Mỹ: PBS, ABC, CBS, NBC, TVO, vv. Bạn sẽ thấy, chỉ những từ ngữ phổ thông được sử dụng và phát âm rất rõ; miệng lưởi moving rõ ràng; cách diễn đạt dễ hiểu, lại hài hước.

20. Bạn nên xem đi, xem lại, hàng chục lần 1 băng DVD ưng ý, thay vì xem hết cái này đến cái khác. Mở subtitle để vừa xem chữ, vừa nghe nói. Khi TA của bạn đã kha khá, thì bạn có thể vừa xem phim vừa đọc theo subtitle. Nhớ đừng chạy theo cho kịp rồi lơ là cách phát âm, nên chậm mà chắc. Xem lại tới lui để nghe cho bằng được mọi chữ, mọi đoạn văn khó.

21. Khi bạn đã đạt advanced level thì nên vào diễn đàn TA để học hỏi cách diễn đạt suy nghĩ, cách diễn tả những sự việc phức tạp. DĐ nào thì tuỳ thuộc vào sở thích của bạn.

22. Nắm vững voiced và voiceless consonants sẽ giúp bạn áp dụng tốt một số rules khác, chẵng hạn như khi thêm “ed” hay “s” vào sau một từ.

Để tay gần trái khế ở cổ rồi đọc các phụ âm. Chữ nào làm cho dây chằng rung thì được gọi là voiced consonant. Ngược lại ta có voiceless C.

Voiceless C gồm các âm: P, t, k, f, θ, s, ʃ (fashion), tʃ (change).
Voiced C gồm các âm: b, d, g, v, ð, z (zoo), ʒ (pleasure), dʒ (joke), m, n, ŋ (sing), l, r, w, y.

23. Luôn luôn kéo âm thanh dài ra cho những nguyên âm (vowels) có voiced consonant theo sau và làm ngược lại cho voiceles consonant.

Ví dụ:

Advise, eyes, knees, have, made, had, bed, bag, dog ( kéo dài)
Advice, ice, niece, half, mate, hat, bet, back, dock (đọc nhanh)

24. Động từ tận cùng bằng t hay d, khi thêm ed vào thì ed được đọc là “id”

Ví dụ:

Wanted, needed, ended, hated, patted, weeded, etc.

Tuy nhiên, khi thêm ed sau 1 voiced C thì e trở thành e câm và d được đọc là [d].

Ví dụ:

Opened, closed, called, loved, pulled, showed, earned, changed, etc.

“Ed” thêm sau voiceless C thì e câm và d được đọc là [t].

Ví dụ:

Helped (helpt), laughed (la:ft), washed (wɒʃt), worked (wɜːkt), liked (laikt), stop (stɒpt).

Trường hợp thêm s vào sau một động từ (ngôi thứ 3 số ít) thì đọc [z] nếu voiced C trước s. Đọc [s] nếu voiceless C trước s.

Ví dụ:

[z]: Comes, feels, lives, loans, eggs. [s]: eats, likes, helps, cooks, surfs.

*

*

*

25. U nằm sau d thì phải đọc là dz tương tự như j của chữ joke.

Vi dụ:

GraDUal, schedule, education, graduation, procedure, etc.

Nhưng ‘t + u” và “t + y” thì phải đọc như ch của chữ church.

Ví dụ:

AcTUally, statue, nature, situation, fortunate, don’T You, can’t you, etc.

26. Như đã nói trên, trẻ em phải tập nói nhiều thì giọng các em mới chính sát, rõ mau được. Tương tự, phải tập hát nhiều thì mới có thể trở thành ca sĩ được. Mỗi ngày, bạn nên đọc sách, bất cứ cái gì viết bằng TA hay tập nói lại những câu, chữ đã thuộc cho lưu loát hơn. Điều quan trọng là, lúc nào cũng phải đọc đúng từng chữ. Đừng chú ý nhiều đến tốc độ, vì nó sẽ tự động nhanh dần.

Khi gặp từ khó phát âm hay một đoạn câu toàn chữ khó, bạn nên tập đọc tới lui cho đến khi đọc suông sẽ. Những câu văn gọn gàng, diễn tả được những ý nghĩa cần thiết mà bạn thấy trong tự điển, sách, vv, cũng nên ghi xuống và ráng học thuộc sau đó.

27. TA có nhiều chữ được phiên âm một cách vô qui tắc, khó hiểu. Nhưng thật ra, TA có nhiều rules hơn bất kỳ một ngôn ngữ nào. Càng biết được nhiều rules thì mới biết được, sự ngoại lệ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Thỉnh thoảng, bạn vẫn gặp một số từ được viết giống nhau hay phiên âm hoàn toàn giống nhau, nhưng được đọc khác hẳn nhau.

Ví dụ:

One, done, gone. Gin [dʒin] vs engine [ˈendʒin], garden vs warden, deaf vs leaf.
Cũng như một từ ngắn sẽ được đọc khác khi nó là một phần của một từ lớn.

Ví dụ:

Age trong heritage, engine trong engineer, break and breakfast.

28. Để mau tiến, hãy học cái tinh thần và cái cách của người Âu Mỹ: Mạnh dạn hơn trong mọi sự, nêu thắc mắc, tỏ ra grateful, sorry, open-minded, straightforward, không vòng vo lung tung.

Không chỉ trên diễn đàn, mà ngay cả khi bạn tiếp xúc với người nước ngoài. Cứ việc tỏ ra vui vẻ, xáp lại chào hỏi, nói chuyện búa xua với những câu đã thuộc làu. Đừng hỏi tuổi, income, khen cao chứ đừng khen mập. Tây thích và rất trân quí những tiếp xúc tự nhiên thân thiện của người bản xứ.

29. Khi “t” là chữ cái cuối cùng của một từ, người Mỹ thường chỉ đọc nó (t) nếu từ đó ở cuối một đoạn câu, một câu hay vì cố tình nhấn mạnh từ đặc biệt đó.

“t” mà nằm giữa hai nguyên âm thì người Mỹ đọc thành “d” thật nhanh.

Ví dụ:

Water, better, city, forty, little, meeting, duty, matter, party, total.
Đọc là: Wader, bedder, cidy, fordy, liddle, meeding, dudy, madder, pardy, todal.

Ngoài các trường hợp trên, t thường câm đối với người Mỹ. câm là vì lưởi được đưa vào vị trí để chuẩn bị phát âm t, nhưng lưởi được giử luôn ở đó. (Chú ý: Đừng áp dụng t câm cho tới khi bạn có thể nói lưu loát).

Ví dụ:

Test, most, cast, lust, can’T go, don’t like, at work, budget cut, outside, lately. WhaT? That can’t be right! That apartment felt quite hot.

Vì t câm, nên s là âm tiết được đọc cuối cùng. Tuy nhiên âm s của “test, most, cast, lust” vẫn chỉ được phát âm nhanh, thoáng qua rồi bị dập tắt đột ngột bởi t câm.

À, làm sao phân biệt được giữa can và can’t. Easy, can’t luôn phát âm dài hơn can.

30. Tự ôn lại bằng TA, mọi việc bạn đã làm trong ngày, những gì bạn đả nói. Có thể tạo ra tình thế mà bạn có nhiệm vụ phải lên tiếng hay giải thích cho người khác hiểu về một sự việc. Lập đi lập lại một đề tài, cho đến khi nào bạn thoả mãn về từ ngữ, cấu kết câu văn, giọng đọc và tốc độ trình bày.

31. Có nhiều trường hợp “ch” được đọc là “k”.

Ví dụ:

Chemistry, scheme, stomach, ache, headache, architect, vv.

32. Học tiếng Anh đòi hỏi thời gian, kiên nhẫn và miệt mài. Bạn thử nghĩ xem, các em bé người Anh, Mỹ phải mất 10 năm mới có thể đối đáp lưu loát được khoảng 1,000 từ. Ở mẫu giáo và bậc tiểu học, cha mẹ, thầy, cô giáo phải sửa tới sửa lui nhiều lần để các em dần dần phát âm đúng. Các em còn được sửa thường xuyên, nguyên câu nói, cho hay hơn. Vì vậy, đừng vội nản chí, đừng đòi hỏi TA của bạn có kết quả ngay lặp tức. Đừng quên, bạn đang bắt đầu làm lại mà. Cần vài năm thôi!

Không những văn nói mà trong văn viết, những tạp chí, tài liệu, sách vở TA, TM càng có giá trị, nổi tiếng thì cách cấu tạo câu văn, từ ngữ sử dụng càng giản dị dễ hiểu. Mọi tầng lớp lao động trí thức, già trẻ đều có thể hiểu rõ ràng ý chính cộng mọi chi tiết được nêu. Đây cũng là một sự khích lệ cho dân ESL.

*

Chương trình đào tạo tiếng Anh ở trường phổ thông và đại học, không tập trung vào việc phát âm đúng, cũng không trang bị cho học sinh hàng trăm câu nói thuộc lòng để có thể sử dụng hằng ngày. Vì có căn bản được đào tạo yếu kém, nên càng để lâu thì bạn càng vùng vẫy loanh quanh, càng khó sửa cái sai, khó nhận ra cái đúng hay nhớ cái đúng mới tiếp thu.

Theo kinh nghiệm bản thân tôi, cái bửu bối cho người học TA chính là những phiên âm trong tự điển. Ngày nay, may mắn thay, ta có cuốn tự điển online: Vừa đọc chữ, vừa có phiên âm.

Bởi vậy, tôi viết bài này nhằm giúp các bạn đã biết nhiều nhưng có căn bản yếu kém, vẫn còn gặp khó khăn nói TA nhưng có quyết tâm muốn tìm ra một giải pháp.

Tôi nghĩ, các điểm #1, 2, 4, 7, 9, 10, 11, 26, 28, 30 và 32, là quan trọng, cơ bản nhất và bài viết được tóm gọn trong 4 messages:

- Dùng bửu bối để tự học phát âm đúng.
- Học nguyên câu để nói hửu hiệu và ấn tượng.
- Review vốn TA mà bạn đã có, để phục hồi từng chữ một, bắt đầu bằng abcd.
- Từ điển thefreedictionary.com sẽ là bạn đồng hành mỗi ngày của bạn.

Bài viết có thể còn được sửa chửa và bổ sung thêm. Nếu bài này hửu ích đối với bạn, thì nhớ đón đọc bài, “Cách phát âm TM”. Mọi góp ý, thắc mắc (điểm #28), xin gởi via e-mail.

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận
  Tin cùng loại cũ hơn
Bí quyết đạt IELTS 8.0 của cô nữ sinh 9X
Học tiếng Anh qua bài hát - Đã ai hiểu được tầm quan trọng?
Thương mại điện tử
Xem giỏ hàng
Thanh toán
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
LIÊN KẾT WEBSITE
Số lượt truy cập: 5.268.062
Tổng thành viên: 612
Đang mua hàng:  25